Tình trạng nhiễm giun ở trẻ em và người lớn tại Việt Nam
Giun là động vật đa bào, ký sinh chủ yếu trong đường ruột của người và động vật. Trong một số trường hợp nhiễm giun, giun có thể ký sinh ở các cơ quan nội tạng khác hoặc trong máu. Ở giai đoạn trưởng thành, một con giun đũa có thể đạt kích thước lên đến 15-30cm.
Nhiễm giun là tình trạng rất phổ biến tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ nhiễm giun cao trong khoảng 50%-97%, phân bố tùy thuộc vào từng vùng, miền. Ở nam giới có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nữ giới.
Phân loại các loại giun phổ biến thường ký sinh ở người
Những loại giun phổ biến thường sống ký sinh ở người bao gồm: Giun đũa, giun móc, giun tóc và giun kim.
Giun đũa: đặc điểm, phương thức lây truyền, thời gian ủ bệnh
Giun đũa là loại giun có kích thước lớn. Giun cái trưởng thành dài khoảng 20-25 cm, giun đực trưởng thành dài khoảng 15-17 cm. Giun đũa cái có khả năng đẻ khoảng 200 ngàn trứng/ngày và có đời sống từ 13-15 tháng. Giun có màu trắng, hồng, đầu và đuôi thon, nhọn. Giun đũa thường phát triển mạnh ở các nước nhiệt đới và ôn đới. Người dân sinh sống ở khu vực nông thôn thường có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn người dân ở thành thị. Trẻ em có nguy cơ cao nhiễm giun đũa hơn là người lớn.

Con người, đặc biệt là trẻ em là ổ chứa của giun đũa. Ổ chứa của trứng giun đũa là đất và nước nhiễm phân. Thông thường, con người có thể bị nhiễm giun đũa qua đường ăn uống. Nhiễm giun không thể lây truyền trực tiếp từ người sang người.
Thời gian từ khi nuốt phải trứng giun đũa, đến khi có các triệu chứng đầu tiên của nhiễm giun thường rơi vào khoảng từ 5-14 ngày. Thời gian người nuốt phải trứng có ấu trùng, cho đến khi giun trưởng thành và đẻ trứng khoảng 45-60 ngày.
Giun móc: đặc điểm, phương thức lây truyền, thời gian ủ bệnh
Giun móc là loại giun ký sinh ở người, thuộc họ Ancylostomidae. Tùy thuộc trong ruột giun móc có máu hay không, mà màu sắc của loại giun này có sự thay đổi nhất định: từ màu trắng sữa, cho đến hơi hồng hoặc đỏ nâu. Kích thước của giun móc nhỏ hơn giun đũa. Giun móc đực chỉ dài khoảng 8-11mm, giun móc cái dài khoảng 10-13mm. Giun móc cái có thể đẻ từ 10 ngàn - 25 ngàn trứng/ngày. Giun móc có thể sống từ 4-5 năm trong cơ thể người nếu không được điều trị. Trong bao miệng giun móc có 2 đôi răng hình móc được bố trí cân xứng, giúp giun cắn chặt vào niêm mạc tá tràng để hút máu.

Nguyên nhân nhiễm giun ở người
Có rất nhiều nguyên nhân gây nhiễm giun ở người như:
- Điều kiện khí hậu nhiệt đới, ẩm ở nước ta đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sôi và phát triển của các loại giun;
- Ăn thực phẩm ở các hàng quán lề đường, không rõ nguồn gốc, không đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Thói quen sinh hoạt kém vệ sinh như cắn móng tay, mút tay, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh;
- Đi bộ chân đất cũng tạo điều kiện cho ấu trùng giun chui vào cơ thể qua da;
- Dùng phân chưa được xử lý để tưới bón cây trồng.
Dấu hiệu và triệu chứng nhiễm giun
Bệnh trạng của nhiễm giun sán liên quan đến số lượng giun. Những người bị nhiễm giun với số lượng ít (vài con giun) thường không bị nhiễm trùng. Số lượng giun ít không gây ra triệu chứng đáng kể. Khi giun tồn tại trong cơ thể với số lượng nhiều, chúng sẽ gây ra một loạt các triệu chứng. Số lượng giun nhiều quá mức có thể gây ra tắc ruột, cần được chỉ định làm phẫu thuật.
Người bị nhiễm giun sẽ có những triệu chứng điển hình sau:
- Đau vùng rốn, người bệnh gầy yếu, có thể nôn và đi ngoài ra giun. Đau bụng do nhiễm giun thường tái đi tái lại nhiều lần;
- Người bị nhiễm giun kim thường bị ngứa ở vùng hậu môn về đêm;
- Rối loạn tiêu hóa, phân lúc đặc, lúc lỏng, giun kim xuất hiện ở hậu môn hoặc trong phân;
- Trẻ nhiễm giun thường biếng ăn, khó chịu, hay quấy khóc và khó ngủ về đêm;
- Có biểu hiện thiếu hụt vitamin và khoáng chất;
- Trong một số trường hợp, người bị nhiễm giun có máu trong phân, có biểu hiện thiếu máu, thở khò khè hoặc ho khan.
Phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm nhiễm giun
Có hai phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm nhiễm giun phổ biến nhất hiện nay là xét nghiệm máu và xét nghiệm phân.
Xét nghiệm máu
Xét nghiệm máu được dùng nhiều trong chẩn đoán nhiễm ký sinh trùng ở người, có khả năng phát hiện ký sinh trùng giun ẩn náu trong máu người bệnh.
Nếu kết quả xét nghiệm máu dương tính với kháng thể ký sinh trùng, nghĩa là người bệnh đã nhiễm giun. Ngược lại, nếu kết quả xét nghiệm máu âm tính, nghĩa là người bệnh khỏe mạnh, không có ký sinh trùng giun trong cơ thể.
Xét nghiệm phân
Thu thập và quan sát mẫu phân của người bệnh để tìm trứng giun có trong phân, từ đó đưa ra kết quả chẩn đoán. Để thực hiện xét nghiệm, các bác sĩ hoặc điều dưỡng lấy một mẫu phân có dấu hiệu nhiễm giun như: nhầy, lợn cợn, xuất huyết rồi cho vào lọ đậy kín, gửi đến phòng xét nghiệm.
Ngoài xét nghiệm máu và xét nghiệm phân, các bác sĩ có thể chỉ định các phương pháp xét nghiệm khác nhau ở các trường hợp nghi ngờ nhiễm giun khác nhau như: xét nghiệm dịch màng phổi ở ấu trùng giun lươn, nội soi tìm giun lạc chỗ, kết hợp với siêu âm, chụp cắt lớp, chụp CT để cho ra kết quả chính xác nhất.